Chiến lược của các quỹ mở đầu tư cổ phiếu
***********************
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của người biên soạn và chỉ nhằm mục đích chia sẻ thông tin. Đây không phải khuyến nghị đầu tư.
Anh chị em vui lòng xem đây là một tư liệu tham khảo và tự chịu trách nhiệm với các hoạt động đầu tư của bản thân.
***********************
Xin chào anh chị em,
Khi đầu tư chứng khoán, có lẽ anh chị em ít nhiều đã từng nghe về các quỹ cổ phiếu. Trên thị trường hiện tại có tới vài tá quỹ đang đầu tư vào các cổ phiếu, và bài viết này nhằm giúp anh chị em phân loại các loại quỹ này dựa trên chiến lược của họ.
Các quỹ mở có đầu tư vào cổ phiếu tại Việt Nam có thể chia thành 6 nhóm chính, trong đó có 5 nhóm sử dụng chiến lược chủ động và 1 nhóm sử dụng chiến lược thụ động. Sau đây là chi tiết từng chiến lược.
Loại A: Các quỹ tương hỗ
Nhóm 1: Chủ động lựa chọn, ưu tiên nắm giữ
Các quỹ đi theo chiến lược này sẽ chủ động chọn doanh nghiệp tốt, dựa vào tình hình kinh doanh, sức khoẻ tài chính, định giá phù hợp...Sau đó, quỹ sẽ quan sát, chờ thời cơ giá giảm để mua cổ phiếu rồi nắm giữ lâu dài. Tỷ lệ vòng quay danh mục, chỉ số đo lường tốc độ thay đổi cổ phiếu trong danh mục của quỹ trong 1 năm, của các quỹ nhóm 1 thường dưới 100%, cho thấy họ ưu tiên nắm giữ thay vì giao dịch liên tục.
Ví dụ cho các quỹ này là: VESAF, VCBF-MGF
Ưu điểm của các quỹ nhóm 1 là tăng trưởng bền vững nhờ chọn lọc cổ phiếu tốt và định giá hấp dẫn. Việc nắm giữ dài hạn giúp các quỹ tối ưu hóa lợi nhuận, tận dụng cổ tức để hưởng lợi từ lãi kép. Do đó, các quỹ nhóm 1 thường đạt hiệu quả vượt trội so với VNIndex trong nhiều năm trở lại đây.
Tuy nhiên, việc duy trì chiến lược nắm giữ có thể khiến các quỹ nhóm 1 phải chịu đựng những sụt giảm lớn trong những biến động của thị trường chung. Các biện pháp quản trị rủi ro như hạ tỷ trọng cổ phiếu beta cao, tái cấu trúc danh mục đầu tư theo hướng phòng thủ trước những rủi ro thị trường điều chỉnh, có thể các quỹ giảm bớt thiệt hại. Tuy nhiên, việc điều lệ không cho phép khiến các quỹ không thể hạ tỷ trọng cổ phiếu xuống quá sâu hay nắm giữ trái phiếu để pha loãng rủi ro. Ngoài ra, các quỹ của các công ty quản lý có vốn hóa lớn thường cũng là cổ đông lớn của các doanh nghiệp niêm yết, do đó, việc bán ra cổ phiếu phải trải qua quá trình đăng ký và công bố thông tin với HOSE hoặc HNX, nên đó cũng là trở lực đáng kể cho các quỹ.
Bởi vậy, khi nắm chứng chỉ của các quỹ Nhóm 1, bạn chắc chắn phải chấp nhận những cú sụt giảm tương đương thị trường chung, tức khoảng 15-20%, trong một biến động bình thường của thị trường chứng khoán Việt Nam.
So sánh hiệu suất đầu tư giữa quỹ cổ phiếu Tiếp Cận Thị Trường VinaCapital (VINACAPITAL-VESAF) của VinaCapital với VN-Index
Nhóm 2: Chủ động lựa chọn, chủ động giao dịch
Các quỹ này lựa chọn cổ phiếu tăng trưởng có nền tảng tốt, giống như Nhóm 1, nhưng họ mua bán nhiều hơn và chủ động hơn thay vì nắm giữ quá dài. Vẫn sẽ có một vài cổ phiếu trụ cột của từng quỹ, nhưng nhìn chung, các quỹ nhóm 2 thường giao dịch chủ động hơn rất nhiều so với nhóm 1. Tỷ lệ vòng quay danh mục của nhóm 2 có thể từ 300-500%/năm (tương đương 3-5 lần thay danh mục mỗi năm).
Ưu điểm của các quỹ nhóm 2 là họ tận dụng rất tốt những nhịp tăng điểm của thị trường nhờ chính sách mua bán linh hoạt, chốt lời sớm. Tuy vậy, ở những thời điểm thị trường đi ngang hoặc đã tăng trưởng quá nóng, các quỹ này có thể gặp nhiều khó khăn. Và tương tự như nhóm 1, các quỹ nhóm 2 không có quá nhiều lựa chọn để giảm mạnh tỷ trọng cổ phiếu trước các biến động lớn, do đó, giá trị của họ có thể giảm tương đương với VNIndex trong những biến động của thị trường chung.
Ví dụ cho nhóm 2: DCDS, TBLF, DCDE
So sánh hiệu suất đầu tư giữa quỹ Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Năng Động DC (DCDS) của Dragon Capital với VN-Index
Nhóm 3: Danh mục giới hạn, giao dịch vừa phải
Ví dụ điển hình: SSI-SCA, VEOF, VCBF-BCF
So sánh hiệu suất đầu tư giữa Quỹ Đầu tư Cổ phiếu Hưng Thịnh VinaCapital (VINACAPITAL-VEOF) với VNIndex
Nhóm 4: Đầu tư theo định hướng chuyên biệt.
Nhóm 4 gồm các quỹ chỉ đầu tư giới hạn vào một nhóm ngành hoặc một định hướng hẹp. Chẳng hạn quỹ VMEEF từng chỉ tập trung vào cổ phiếu các doanh nghiệp công nghệ khi 25% danh mục là FOX, FPT. Sau giai đoạn tăng trưởng rực rỡ, cổ phiếu họ FPT lao dốc, quỹ phải điều chỉnh tên và chiến lược để mở rộng danh mục nhưng vẫn tập trung vào các doanh nghiệp có mức đầu tư cao cho công nghệ.
Hay một ví dụ khác, quỹ EVESG chỉ tập trung vào các công ty có cam kết về ESG (Environmental, Social, and Governance- một khung đánh giá nhằm đo lường tính bền vững và trách nhiệm đối với môi trường, xã hội của doanh nghiệp). Danh mục của họ khá hẹp, tập trung chủ yếu vào ngành ngân hàng và một số doanh nghiệp khác.
Các quỹ nhóm 4 thuộc diện "khó chơi", khi nhóm ngành lựa chọn được hưởng lợi, họ tăng trưởng rất mạnh mẽ, nhưng khi cơn sóng qua đi, họ lại phải loay hoay tìm hướng đi. Cũng như 3 nhóm trên, tỷ trọng cổ phiếu cao khiến quỹ nhóm 4 biến động mạnh cùng thị trường khi giảm điểm, nhưng thường vượt trội VNIndex nhờ danh mục cổ phiếu được chọn lọc.
Ví dụ: VMEEF, EVESG
So sánh hiệu suất đầu tư giữa Quỹ Đầu tư Cổ Phiếu Kinh Tế Hiện Đại VinaCapital (VINACAPITAL-VMEEF) với VNIndex
****
Tóm lại, 4 nhóm quỹ loại A có đặc điểm chung là tập trung phần lớn vào lớp tài sản cổ phiếu. Hệ quả tất yếu là họ luôn biến động ít nhất là tương đương với VNIndex trong những nhịp điều chỉnh, nhưng thường vượt trội hơn VNIndex khi thị trường tăng nhờ danh mục cổ phiếu được chọn lọc. Ngoài ra, cần lưu ý, tất cả các quỹ cổ phiếu đều không mong khách hàng trading sản phẩm của họ nên mức phí bán lại chứng chỉ quỹ có thể lên tới 2% nếu anh chị em nắm giữ dưới 6 tháng. Khoảng thời gian mà các quỹ kì vọng khách hàng đồng hành cùng họ là trên 2 năm. Khi đó, phí bán lại sẽ giảm xuống 0-0.5% tài sản.
Do đó, anh chị em nắm giữ chứng chỉ quỹ của 4 nhóm trên phải xác định rất rõ rằng (1) việc đầu tư chứng chỉ quỹ cổ phiếu cần hướng đến dài hạn, và trong quá trình nắm giữ đó, (2) khả năng bị lỗ 15-30% khi thị trường biến động bất lợi là điều không thể tránh khỏi. Hãy chắc chắn rằng việc gồng khoản lỗ đó không làm anh chị em bất an. Nếu không, hãy tham khảo loại B: quỹ cân bằng.
Loại B: Quỹ cân bằng
Nhóm 5: Danh mục cân bằng cổ phiếu và trái phiếu
Quỹ cân bằng đầu tư 50% vào cổ phiếu và 50% tài sản lợi suất cố định (trái phiếu, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi...). Bởi luôn có lợi suất từ lớp tiền gửi và trái phiếu nên sự sụt giảm tổng thể trong NAV của quỹ thường nhẹ hơn VNIndex khi có bất lợi từ thị trường chứng khoán. Ngược lại, do lớp cổ phiếu thường tăng trưởng tốt do được chọn lọc kĩ nên thực tế các quỹ cân bằng vẫn cho hiệu suất tương đương VNIndex.
Quỹ cân bằng là sản phẩm thích hợp để đầu tư dài hạn cho những nhà đầu tư yêu thích sự an toàn, bền vững, kì vọng tăng trưởng không quá nhanh trong từng năm. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là NAV của quỹ luôn tăng trưởng và anh chị em không bao giờ bị âm tài khoản. Trước những biến động quá lớn của thị trường cổ phiếu, NAV của quỹ cân bằng có thể giảm sâu, dẫn tới những khoản lỗ ngắn hạn cho những ai trót đu đỉnh trước đó. Mặc dù, sự giảm giá này không nặng nề như đối với các quỹ cổ phiếu Loại A, đây vẫn là điều có thể ảnh hưởng lên hiệu suất chung của tài sản đầu tư mà anh chị em cần lưu tâm.
Tương tự như các quỹ Loại A, các quỹ cân bằng thường không khuyến khích khách hàng trading sản phẩm của họ, do đó, phí bán lại khi nắm giữ dưới 6 tháng thường rất cao (2% NAV) và chỉ giảm xuống đáng kể (0.5% NAV) nếu khách hàng giữ trên 24 tháng.
So sánh hiệu suất đầu tư giữa quỹ cân bằng Tuệ Sáng của VinaCapital với bình quân giữa VN-Index và lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng của Vietcombank
Loại C: Quỹ đầu tư thụ động
Nhóm 6: ETF hay các quỹ mô phỏng chỉ số.
Nhóm này sẽ mô phỏng lại chỉ số, ví dụ VN30, VN100, VNDiamond. Họ đầu tư thụ động, tức là không chủ động chốt lời khi thị trường tăng, không chủ động bán khi thị trường giảm. Họ cũng không chọn cổ phiếu mà mua hết hoặc hầu hết các cổ phiếu trong rổ chỉ số.
Ưu điểm của ETF là nó được niêm yết và giao dịch trên sàn như một mã chứng khoán nên thanh khoản khá tốt, dễ mua bán và không chịu phí bán lại giống như các quỹ ở trên. Tuy nhiên, cái gì cũng có giá của nó. ETF có mức tăng trưởng thấp, chỉ ngang với chỉ số mà nó mô phỏng, và giảm giá tương đương chỉ số ở những biến động bất lợi của thị trường.
Tôi hay nói vui rằng, ở một thị trường nặng về đầu cơ như Việt Nam, ETF là một đội bóng công không hay mà thủ cũng không giỏi. Do đó, đây là sản phẩm phù hợp để anh chị em làm bài tập vỡ lòng về đầu tư cổ phiếu. ETF giống như cổ phiếu đại diện cho cả thị trường, hoặc ít nhất là cả rổ chỉ số mà nó mô phỏng. Do đó, khi giao dịch ETF, anh chị em có thể hiểu phân tích được cách mà thị trường vận hành, dễ dàng đưa biểu đồ giá của nó vào trong một phép so sánh hoặc tính toán tương quan với một chỉ số vĩ mô. Còn để kiếm tìm lợi nhuận cao hoặc một sự tăng trưởng bền vững, ETF không phải lựa chọn tốt.
Bàn luận
Khác với quỹ trái phiếu, nơi mà nhà đầu tư có thể tương đối an tâm về sự tăng trưởng đều đặn và hầu như không có sự sụt giảm đáng kể (XEM THÊM TẠI ĐÂY), tất cả 6 loại quỹ cổ phiếu đều có tính biến động cao hơn. Do đó, cần khẳng định chứng chỉ quỹ cổ phiếu hay ETF đều là tài sản rủi ro và cần nhà đầu tư phải quản trị rủi ro khi quyết định sở hữu. Hiểu một cách đơn giản, để có lợi nhuận tốt từ đầu tư quỹ cổ phiếu, nhà đầu tư cần:
- Chọn đúng điểm mua, dừng tay đúng lúc.
Tôi đã từng nhận không biết bao nhiêu "gạch đá" khi nói điều này. Những người "ném đá" chửi tôi là không có mindset dài hạn, là tư duy trading ngắn hạn, rồi họ hùng hồn dẫn một câu kinh điển của thị trường: "Time in the market is more important than timing the market".
Rồi mỗi khi thị trường xảy ra một cú giảm 12%, 15% hay 20%, những người đấy lặn không sủi tăm, còn những ai đi theo cái triết lý DCA đều đặn giống như họ miệt mài gồng lỗ.
Lí do đơn giản là thị trường chứng khoán ở Việt Nam có tính chu kì và tính đầu cơ rất cao. Giá trị của nó thường bị bơm thổi quá mức nên việc DCA giá lên là hành động chơi với lửa. Tôi không khuyến nghị mọi người timing the market theo cách mà mấy người mù quáng hay làm, đó là chờ khi nào VNIndex về 900, về 800 thì mới mua, cũng không bảo ai đoán đáy để mua vào. Nhưng khi bạn bước vào thị trường và thấy một tài sản đã tăng 25-30% từ đáy gần nhất thì đừng vội vàng mua vào. Hãy tìm hiểu xem vì sao nó tăng nhiều thế? Động lực khiến nó tăng có còn tiếp tục mạnh hơn hay đã đạt cực đại? Cái giá hiện tại của nó có xứng đáng với giá trị của nó hay không? Nếu câu trả lời là mọi thứ tốt đẹp nhất đã phản ảnh vào giá tài sản thì hãy cứ cầm tiền đó chờ nó nguội bớt, hoặc tìm một thứ khác tiềm năng hơn. Cứ thích Time in the market rồi rốt cuộc toàn là Time to play with fire.
Tôi nhìn thấy điều này suốt mấy năm nay rồi: thị trường lên, hỏi 100 người thì cả 100 người tuyên bố sẽ đầu tư dài hạn, sẽ DCA, sẽ mua đều đặn. Thị trường xuống sâu thật là sâu, hỏi 100 người thì kiếm được 2-3 người dám mua vào đã là nhiều lắm rồi.
- Chọn đúng điểm bán/chuyển đổi
Khi nắm giữ một tài sản đã tăng giá rất mạnh, hãy nghĩ đến việc bảo quản thành quả.
Thị trường tăng nhờ nới lỏng tín dụng, nhờ tiền bơm ra nhiều, nhờ kích thích kinh tế, thì khi tiền hết được bơm ra, tiền không nhiều thêm nữa, đó là lúc chốt lời.
Hoặc có thể diễn giải chi tiết hơn,
Thị trường tăng nhờ lãi suất thấp, ngân hàng đẩy mạnh cho vay tín dụng, nhà nước kích cầu để GDP cao, vậy thì khi lãi suất rục rịch quay đầu, ngân hàng không mặn mà tăng trưởng tín dụng nữa, nhà nước nói đến kiểm soát lạm phát, đó là lúc chốt lời.
Chốt lời với chứng chỉ quỹ có 2 cách:
(1) Bán. Không cần nói nhiều.
(2) Chuyển đổi: Với các quỹ cho phép chuyển đổi sang quỹ khác cùng công ty quản lý, anh chị em có thể chuyển đổi từ quỹ cổ phiếu sang quỹ cân bằng hoặc quỹ trái phiếu. Ví dụ, khi anh chị đầu tư vào quỹ VESAF hay VEOF có lợi nhuận đủ tốt, để bảo toàn lợi nhuận khi thấy những biến cố bất lợi, anh chị em có thể đặt lệnh chuyển đổi sang VFF hoặc VIBF. Nhưng lưu ý, việc chuyển đổi sẽ (1) mất từ 1-2 tuần và (2) quỹ sẽ tính thời gian nắm giữ lại từ đầu (ảnh hưởng đến phí bán về sau), do đó, đừng lạm dụng lệnh chuyển đổi nếu rủi ro không quá lớn.
Mua sai chưa chắc đã mất tiền, nhưng có lời không chốt, có lỗ không cắt thì chắc chắn mất tiền. Vậy nên, thị trường lên, ai cũng nghĩ mình giàu. Rốt cuộc, đến khi thị trường xuống, chỉ vài người thực sự kiếm được tiền.
- Không DCA đều đặn.
DCA đều đặn vào các quỹ cổ phiếu là chiến lược tồi tệ. Bạn phải biết bạn đang mua cái gì, rủi ro thế nào. DCA khiến bạn cầm chắc nguy cơ đu đỉnh (vì đỉnh thường dài do các nhà đầu tư trao tay nhau liên tục ở giá cao), còn bắt đáy thì chưa chắc (bởi lúc thị trường giảm thì bạn chưa chắc đã vượt qua nỗi sợ bắt dao rơi để dám mua tiếp, và ở các đáy thì thường kiệt thanh khoản nhưng lại có lực cầu của tổ chức đỡ vào nên khả năng bắt được thấp hơn nhiều so với đỉnh). Tôi nói rất nhiều về sự dở tệ của DCA vào cổ phiếu hay quỹ cổ phiếu (kể cả ETF) trên blog này rồi. Anh chị em quan tâm thì mời tìm đọc để xem lại.
Kết lại
Quỹ cổ phiếu là sản phẩm cực kì hấp dẫn, nhưng cũng cực kì rủi ro. Hãy tìm hiểu rất kĩ về nó trước khi mua, tìm hiểu xem vì sao nó tăng, vì sao lại giảm. Chúng ta có thể không phải chuyên gia phân tích báo cáo tài chính, không sao cả, các quỹ đã làm thay. Nhưng việc phân tích kinh tế vĩ mô, phân tích cơ hội và rủi ro thì không ai làm thay được. Do đó, hãy trang bị kiến thức thật đầy đủ. Nếu không, hãy chọn những sản phẩm an toàn hơn thay vì lớp tài sản gắn với cổ phiếu.
Chúc anh chị em thành công!
Em cảm ơn bài biết rất chi tiết của anhGiang cho em thêm vài góc nhìn mới
Trả lờiXóaCảm ơn bạn đã ghé thăm và đọc bài!
XóaRất cảm ơn anh vì bài viết
Trả lờiXóaCảm ơn bạn nhé
XóaCảm ơn những chia sẻ của a rất nhiều. Đọc những bài a share mà e vỡ lòng nhiều thứ quá. Chúc a nhiều sức khoẻ để tiếp tục chia sẻ thêm nhiều điều hay
Trả lờiXóaCảm ơn bạn đã đọc bài nhé!
Xóagần đây em siêng đọc blog của anh lắm, có nhiều kiến thức về chứng khoán hơn trước rồi ạ. Chúc a nhiều sức khoẻ nhé
Trả lờiXóaCảm ơn bạn đã ủng hộ! Chúc bạn nhiều may mắn và bình an.
Xóa