Vài nét về báo cáo tài chính của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2024
************************
Tuyên bố miễn trừ
trách nhiệm
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của người biên soạn và chỉ nhằm mục
đích chia sẻ thông tin, hoàn toàn không có mục đích thương mại và không phải
khuyến nghị đầu tư.
Những thông tin trong bài viết này được tổng hợp vào ngày 31/07/2024,
các nhận định phản ánh quan điểm của người viết tại thời điểm biên soạn và có
thể không còn chính xác hoặc bị thay đổi trong tương lai.
Số liệu trong bài viết được tổng hợp từ trang https://iboard.ssi.com.vn/
Anh chị em vui lòng xem đây là một tư liệu tham khảo và tự chịu trách
nhiệm với các hoạt động đầu tư của bản thân.
*************************
Xin chào anh chị em,
Chúng ta đã đi qua hơn nửa chặng đường của năm 2024 và cho tới hiện tại,
hầu hết các doanh nghiệp đã công bố kết quả kinh doanh nửa đầu năm. Giờ là lúc
các nhà đầu tư có thể nhìn lại tình hình của các doanh nghiệp để từ đó có định
hướng cho hoạt động đầu tư nửa cuối năm nay. Trong bài viêt này, mình xin điểm
qua một vài khía cạnh về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành ngân hàng
trong nửa đầu năm nay.
1. Vốn hoá và tài sản
Tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu (Tỷ lệ
đòn bẩy)
Nhìn chung, các ngân hàng có xu hướng duy trì tỷ lệ tổng tài sản trên vốn
chủ sở hữu trong suốt 4 quý gần nhất (cũng như trong 3 năm gần đây). BIDV là
ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy cao nhất, ở quanh mức 18, trong khi TCB và VPB có tỷ
lệ đòn bẩy thấp nhất, quanh mức 6. Hầu hết các ngân hàng duy trì tỷ lệ đòn bẩy
quanh mức 10.
Tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu (Tỷ lệ
đòn bẩy) phản ánh mức độ sử dụng vốn vay so với vốn tự có của ngân hàng để tài
trợ cho các tài sản của mình. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ rủi
ro tài chính và sức mạnh tài chính của một ngân hàng. Tỷ lệ đòn bẩy cao
cho thấy ngân hàng sử dụng nhiều vốn vay để tài trợ cho tài sản của mình. Điều
này có thể làm tăng lợi nhuận tiềm năng nhưng cũng tăng rủi ro tài chính, vì
ngân hàng phải chịu trách nhiệm trả nợ và lãi suất cho các khoản vay. Một tỷ lệ
đòn bẩy thấp cho thấy ngân hàng dựa nhiều hơn vào vốn chủ sở hữu để tài trợ cho
tài sản của mình, giảm rủi ro tài chính nhưng cũng có thể hạn chế khả năng sinh
lời. Việc duy trì tỷ lệ đòn bẩy ổn định có thể là chỉ báo cho thấy phần lớn các
ngân hàng đang duy trì chiến lược của họ ở thời điểm hiện tại.
2. Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu
So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng
đang tăng nhanh. Các ngân hàng như VIB, OCB và MSB duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức
cao và có xu hướng tăng. Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng khác như BID và
TCB đã cải thiện tỷ lệ nợ xấu so với cùng kỳ năm trước. Một số ngân hàng lại
cho thấy sự biến động khá mạnh về tỷ lệ nợ xấu như LPB với tỷ lệ nợ xấu biến động
mạnh, giảm từ 2.79% (Q3 2023) xuống 1.34% (Q4 2023), sau đó tăng lại lên 1.73%
(Q2 2024); hoặc như MBB có tỷ lệ nợ xấu cũng biến động mạnh, tăng từ 1.44% (Q2
2023) lên 2.49% (Q1 2024) rồi giảm nhẹ xuống 1.64% (Q2 2024).
Nhìn chung, sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu trong bối cảnh NIM của
các ngân hàng bị sụt giảm (sẽ trình bày ở phần sau) là một tín hiệu đáng lo ngại.
Nợ xấu gia tăng sẽ khiến các ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều hơn khiến
chi phí gia tăng và sụt giảm nghiêm trọng lợi nhuận. Việc gia hạn Thông tư 02 về
giãn, hoãn chuyển nhóm nợ tại có thể giúp các ngân hàng và các doanh nghiệp có
thêm thời gian để giải quyết các khó khăn tồn tại nhưng cũng khiến các nhà đầu
tư lo ngại hơn về triển vọng của ngành ngân hàng. Bởi lẽ, việc không được chuyển
nhóm nợ khiến cho chính các ngân hàng lẫn các nhà đầu tư không thể đánh giá thực
sự chính xác tình hình nợ xấu và do đó, không đánh giá được đúng mức những rủi
ro tiềm tàng trong hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và trích lập
dự phòng
Nhìn chung, các ngân hàng đang có xu hướng giảm trích lập dự
phòng trong 6 tháng đầu năm. Một số ngân hàng giảm mạnh trích lập dự phòng như ACB,
BID, LPB, MBB, VCB. Trong khi đó, nhiều ngân hàng vẫn đang duy trì tỷ lệ dự
phòng rủi ro tín dụng trên nợ xấu ở mức thấp trong nhiều quý liên tiếp như VIB,
VPB, MSB, OCB, TPB.
Xu hướng giảm mức độ bao phủ nợ xấu trong bối cảnh tỷ lệ nợ
xấu tăng cao cho thấy các ngân hàng đang có áp lực lớn về lợi nhuận. Giảm trích
lập dự phòng sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí, từ đó có được con số lợi
nhuận đẹp hơn trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa họ
đang đẩy các chi phí vào tương lai và lợi nhuận kì vọng của ngành ngân hàng sẽ
bị ảnh hưởng rất nhiều.
3. Chi phí
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (Cost-to-Income Ratio CIR)
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập hay CIR là một chỉ số tài chính quan trọng được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của một ngân hàng. Tỷ lệ CIR thấp cho thấy ngân hàng hoạt động hiệu quả, kiểm soát tốt chi phí và có khả năng tạo ra thu nhập cao từ các hoạt động của mình. Tỷ lệ CIR cao cho thấy ngân hàng có thể đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát chi phí hoặc không tạo ra đủ thu nhập từ các hoạt động của mình.
Có thể thấy, xu hướng
chung là CIR của các ngân hàng đã giảm trong 2-4 quý gần nhất. MSB, TPB,
ACB, là những ngân hàng có mức giảm CIR
mạnh nhất so với đầu năm 2024 trong khi LPB và TPB có mức giảm CIR rõ rệt so với
cùng kỳ năm trước. VIB và OCB là hai ngân hàng có CIR tăng lên cả so với cùng kỳ
và đầu năm. Điều này có thể là chỉ báo cho thấy các chi phí của các ngân hàng
này tăng lên trong khi lợi nhuận bị suy giảm đáng kể.
4. Doanh thu và lợi nhuận
ROE, ROA
Nhận xét
- ACB: ROA duy trì ổn định quanh mức 2.3-2.4%, có giảm nhẹ từ quý
2/2023 (2.40%) đến quý 2/2024 (2.29%). ROE duy trì ổn định quanh mức
22-24%, có giảm nhẹ từ quý 2/2023 (24.14%) đến quý 2/2024 (22.85%).
- BID: ROA ổn định quanh mức 0.9-1%, có tăng nhẹ từ quý 2/2023 (0.96%)
đến quý 2/2024 (0.98%). ROE ổn định quanh mức 18-20%, giảm từ quý 2/2023
(19.75%) xuống 18.80% vào quý 2/2024.
- LPB: ROA tăng mạnh từ 1.09% (quý 2/2023) lên 2.08% (quý 2/2024), cho
thấy sự cải thiện lớn trong hiệu quả sử dụng tài sản. ROE tăng mạnh từ
14.68% (quý 2/2023) lên 24.65% (quý 2/2024), cho thấy sự cải thiện lớn
trong hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.
- MBB: ROA duy trì ổn định quanh mức 2.3-2.5%, ROE duy trì ổn định
quanh mức 22-24%, không có biến động lớn trong 5 quý.
- TCB: ROA dao động nhưng giữ ở mức cao từ 2.33% đến 2.52%, tăng lên
2.51% vào quý 2/2024. ROE dao động nhưng tăng nhẹ từ 15.50% (quý 2/2023)
lên 16.21% (quý 2/2024).
- VIB: ROA giảm dần từ 2.53% (quý 2/2023) xuống 1.89% (quý 2/2024), phản
ánh sự suy giảm trong hiệu quả sử dụng tài sản. ROE giảm dần từ 27.66%
(quý 2/2023) xuống 20.52% (quý 2/2024), phản ánh sự suy giảm trong hiệu quả
sử dụng vốn chủ sở hữu.
- VPB: ROA giảm nhẹ từ 1.75% (quý 2/2023) xuống 1.41% (quý 2/2024), cho
thấy hiệu quả sử dụng tài sản giảm. ROE giảm dần từ 11.79% (quý 2/2023) xuống
9.06% (quý 2/2024), cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu giảm.
- MSB: ROA giảm từ 2.18% (quý 2/2023) xuống 1.74% (quý 2/2024). ROE giảm
từ 17.50% (quý 2/2023) xuống 14.78% (quý 2/2024).
- OCB: ROA dao động lớn nhưng giảm từ 2.09% (quý 2/2023) xuống 1.63%
(quý 2/2024). ROE dao động lớn nhưng giảm từ 16.26% (quý 2/2023) xuống
12.95% (quý 2/2024).
- TPB: ROA giảm dần từ 1.78% (quý 2/2023) xuống 1.34% (quý 2/2024). ROE
giảm dần từ 18.62% (quý 2/2023) xuống 14.06% (quý 2/2024).
- VCB: ROA ổn định quanh mức 1.8-1.9%, không có biến động lớn. ROE giảm
từ 23.04% (quý 2/2023) xuống 19.52% (quý 2/2024).
Nhìn chung, LPB có
sự cải thiện đáng kể cả về ROA và ROE, phản ánh sự cải thiện mạnh mẽ trong cả
hai khía cạnh. Ngược lại, VIB, VPB, MSB, OCB và TPB cho thấy sự suy giảm trong
cả ROA và ROE, phản ánh sự giảm hiệu quả trong sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu.
ACB, BID, MBB, TCB và VCB là nhóm ngân hàng có sự ổn định hoặc cải thiện nhẹ
trong cả ROA và ROE.
NIM
NIM (Net Interest
Margin - Tỷ lệ thu nhập lãi ròng) là một chỉ số quan trọng trong ngành ngân
hàng, phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay và huy động vốn. NIM được
tính bằng cách lấy thu nhập lãi ròng (tức là thu nhập từ lãi cho vay trừ đi chi
phí lãi vay) chia cho tổng tài sản sinh lời.
Dưới đây là tổng hợp
chỉ số NIM của 11 ngân hàng niêm yết.
Có thể dễ dàng nhận
ra NIM của các ngân hàng đang giảm khá nhanh so với 6-12 tháng trước, đồng
nghĩa biên lợi nhuận của họ đang giảm dần. Việc SBV yêu cầu các ngân hàng
thương mại hạ lãi suất cho vay, đồng thời nâng trần lãi suất huy động là áp lực
rất lớn khiến NIM của các ngân hàng suy giảm trong quý 2 năm 2024.
CASA
CASA (Current
Account Savings Account) được định nghĩa là tiền gửi không kỳ hạn. Đây chính là
loại tiền gửi mà khách hàng chủ động để tại ngân hàng nhằm thực hiện thanh toán
thường xuyên và hưởng lãi suất không kỳ hạn rất thấp.
Nhìn chung, phần lớn
các ngân hàng đều có sự cải thiện về tỷ lệ CASA trong quý 2 năm 2024 so với quý
2 năm 2023. Một số ngân hàng như MBB, VIB, VPB, MSB, OCB, và TPB có sự cải thiện
rõ rệt so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với đầu năm (quý 1 năm 2024), một
số ngân hàng như TCB, MSB, và TPB lại có sự suy giảm đáng kể về CASA. Việc suy
giảm CASA so với cuối năm 2023 sẽ là một nguyên nhân khác làm tăng chi phí vốn
của ngân hàng (bởi đây là khoản tiền huy động hầu như không chịu lãi suất), do
đó, ảnh hưởng không nhỏ lên biên lợi nhuận của ngân hàng từ nay đến cuối năm.
Tỷ lệ chi phí huy động vốn – COF
Chi phí vốn huy động (Cost of funds, CoF) được sử dụng để đo
lường số tiền lãi mà các tổ chức tài chính phải trả để có được vốn. Nói cách
khác, nó đề cập đến lãi suất (%) mà các ngân hàng phải trả khi họ đi vay vốn
từ ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính khác hoặc các nhà đầu tư khác.
Việc chi phí huy động vốn giảm mạnh xuất phát từ nền lãi suất
thấp của nửa đầu năm 2024 khi phần lớn các ngân hàng duy trì lãi suất huy động
tiền gửi có kỳ hạn quanh mức 5%. Về mặt tích cực, COF giảm giúp cho ngân hàng
giảm bớt chi phí, tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ báo cho việc huy động vốn của hệ
thống ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn. Khi lãi suất thấp, người dân có xu hướng
tìm tới các kênh đầu tư khác có lợi suất kì vọng cao hơn như vàng, chứng
khoán…và thực tế giá vàng từ đầu năm cũng chứng minh cho điều này.
5. Tăng trưởng tín dụng
Khi xem xét chất lượng hoạt động của ngân hàng, bên cạnh nợ
xấu, tăng trưởng tín dụng chính là yếu tố cực kì quan trọng. Tăng trưởng tín dụng
còn gọi là tốc độ tăng dư nợ tín dụng, theo đó tăng trưởng tín dụng là phần
trăm (%) hay số lần thay đổi của dư nợ tín dụng tại một thời điểm nhất định so
với thời điểm trước đó. Hiểu một cách đơn giản, tăng trưởng tín dụng thể hiện
khả năng ngân hàng có thể cho doanh nghiệp vay được nhiều hay ít tiền hơn ở hiện
tại so với quá khứ.
Một yếu tố khác cần
xem xét đối với nhóm ngân hàng là chỉ số LDR. Chỉ số LDR viết tắt tiếng Anh là
Loan to Deposit là tỷ lệ dư tín dụng trên số vốn huy động của ngân hàng. Tỷ lệ
này cho thấy khả năng sinh lời cao hay thấp và mức độ tín nhiệm của ngân hàng. Chỉ
số LDR được dùng để đo lường rủi ro thanh khoản và được tính bằng tổng cho vay
chia cho tổng huy động. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ số tiền ngân hàng cho vay
ra nhiều hơn so với nguồn vốn huy động được. Vì thế nếu ngân hàng gặp khó khăn
về thanh khoản thì lại càng khó huy động được những nguồn vốn rẻ từ đó khiến
thanh khoản càng giảm.
Ngược lại, hệ số
LDR thấp chứng tỏ ngân hàng cho vay ít hơn so với nguồn vốn huy động được hoặc
vay trên thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá… thấp hơn các khoản
huy động, giúp tăng khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Có thể dễ dàng nhận
ra rằng phần lớn các ngân hàng đang cho vay nhiều hơn mức huy động được. Đối với
các ngân hàng thương mại thì đây không phải dấu hiệu tốt bởi hệ thống có thể gặp
rủi ro rất lớn về thanh khoản nếu có một biến cố tương tự như câu chuyện SCB xảy
ra ở thời điểm hiện tại.
6. Một vài nhận định
Ngành ngân hàng có vốn hoá lớn nhất trên TTCK nên lợi nhuận của ngành
này ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận toàn thị trường. Có thể thấy, dù duy trì được
tăng trưởng lợi nhuận, duy trì được ROE, ROA, tuy nhiên ngành ngân hàng đang gặp
phải rất nhiều vấn đề. Trước hết, việc nợ xấu tăng cao trong khi tỷ lệ trích lập
dự phòng giảm đi cho thấy các ngân hàng đang cố gắng tiết giảm chi phí một cách
tối đa để duy trì lợi nhuận. Việc gia hạn Thông tư 02 có thể giúp ngân hàng có
thêm thời gian để cân đối lại các khoản nợ với khách hàng nhưng cũng có thể tạo
ra những “điểm mù” cho nhà đầu tư cá nhân khi không thể biết chính xác tình trạng
nợ xấu của các ngân hàng hiện đang trầm trọng tới đâu. Mặt khác, không sớm thì
muộn, các ngân hàng cũng sẽ phải trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu và đây
sẽ là một khoản chi phí rất lớn đè nặng lên lợi nhuận của các ngân hàng trong
tương lai gần. Bên cạnh đó, NIM suy giảm cũng cho thấy thách thức không nhỏ
trong việc duy trì doanh thu cho ngành ngân hàng. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng
yếu cũng là khó khăn rất lớn cho ngành trong 6 tháng cuối năm. Bởi những lí do
trên, rất khó để kì vọng một sự đột biến về doanh thu, lợi nhuận của ngành ngân
hàng trong nửa cuối năm 2024.
Sau tất cả, kết quả kinh doanh là thứ sẽ quyết định giá của cổ phiếu.
Việc giá cổ phiếu ngành ngân hàng bị chững lại, thậm chí giảm khá sâu trong quý
2 năm 2024 đã phản ánh sự giảm kì vọng của thị trường vào nhóm cổ phiếu này. Việc
tăng trưởng tín dụng thường được cải thiện trong nửa cuối năm có thể là một tia
hi vọng cho giá cổ phiếu ngành ngân hàng có thể tăng lên. Tuy nhiên, không phải
ngân hàng nào cũng sẽ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trong nửa cuối năm, và không
phải ngân hàng nào cũng đủ tốt để đạt được chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Những
ngân hàng đã về đích hoặc sắp về đích và giá cổ phiếu đã phản ánh điều đó hầu
như sẽ không phải nơi mà dòng tiền lớn đổ về. Những ngân hàng có chất lượng tín
dụng yếu, ngân hàng “sân sau” cũng có thể bị bỏ lại. Do đó, cơ hội tuy có nhưng
sẽ không chia đều cho tất cả ngành như hồi cuối năm 2023 nữa.
Thị trường đang ngày càng phân hoá, sẽ không còn chuyện tất cả các cổ
phiếu sẽ cùng tăng giá như nhau trong một nhịp tăng của thị trường nữa. Thậm
chí, sẽ có lúc chỉ số chung của thị trường không tăng nhưng nhiều cổ phiếu sẽ
tăng tốt và nhiều cổ phiếu sẽ không tăng, thậm chí còn giảm giá. Vì vậy, đây là
giai đoạn nhà đầu tư cần lựa chọn cẩn thận cổ phiếu trước khi đặt lệnh mua bán.
Hi vọng bài viết này có thể giúp ích cho anh chị em trên hành trình đầu
tư. Cảm ơn mọi người vì đã kiên nhẫn đọc tới đây.
Thân ái.
File số liệu
https://shorturl.at/6A5bT
Hi anh, cảm ơn anh vì bài viết rất hay. Tôi có 1 vài câu hỏi và comment:
Trả lờiXóa1. Dữ liệu lấy từ iboard của SSI nhưng trong https://iboard.ssi.com.vn/analysis/fundamental-analysis chỉ có báo cáo kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán, không có phần thuyết minh. Trong file của anh có tính tỉ lệ nợ xấu (NPL) và tỉ lệ CASA là những phần chỉ có thể tính được khi đọc thuyết minh BCTC, vậy anh tính những phần đấy kiểu gì, có thể chia sẻ thêm được không vì tôi cũng muốn thử những dữ liệu đấy
2. Tính ROE, ROE, YEA hay COF tôi tính kết quả ra lệch với anh một chút. Ví dụ với ROA của ACB, Q2 2024 kết quả của tôi là 2.34% hay Q1 2024 là 2.36% (số liệu của tôi giống số liệu Simplize công bố)
Công thức tôi tính, ví dụ cho ROA của Q2 2024 =. Thu nhập lãi thuần từ Q3 2023 đến Q2 2024 / Trung bình tài sản của Q2 2024 và Q2 2023 (lúc bắt đầu và kết thúc của mốc 1 năm). Anh có thể chia sẻ thêm phần tính trung bình của anh như thế nào không?
Lý do tôi hỏi là vì ngoài ROE hay ROA có lệch một chút nhưng YEA hay NIM của tôi lệch so với số liệu của anh khá nhiều. Có thể phân tích của anh sẽ không đổi nếu so sánh các ngân hàng với nhau nhưng luận điểm một số chỗ cũng có thể thay đổi (tôi nghĩ vậy).
Chào anh,
XóaCảm ơn anh đã bình luận về bài viết này.
Dữ liệu trong bài viết được xuất từ https://iboard.ssi.com.vn/analysis/fundamental-analysis
Anh có thể bấm vào phần Chỉ số tài chính và chọn các mã để so sánh với nhau. Số liệu bị lệch có lẽ là do cách làm tròn số trên dữ liệu của SSI. Tôi có kiểm tra lại thì nếu lấy đúng từng con số của BCTC thì kết quả cũng hơi khác một chút.
Hi vọng có thể giải đáp một chút thắc mắc của anh.
Một lần nữa xin cảm ơn anh đã dành thời gian.