Tạo dẫn xuất và xác định cấu hình tuyệt đối của một số aldose bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao
Mở đầu
Cơ sở của phương pháp
Các đồng phân đối quang của aldose khi phản ứng với L-cysteine methyl
ester và phenyl isothiocyanate hoặc o-tolyl
isothiocyantate
Hình 1. Sơ đồ phản ứng tạo dẫn xuất của D/L-glucose
Thực nghiệm
Quy trình tạo dẫn xuất và phân
tích đối với các chất chuẩn đối chiếu được Tanaka và cộng sự mô tả như sau [3]:
Cân khoảng 1 mg aldose và 120 μL L-cysteine methyl ester trong pyridine. Sau
khi trộn đều, hỗn hợp phản ứng được ủ trong một giờ ở 60 °C rồi thêm 160 μL
phenyl isothiocyanate và tiếp tục ủ ở 60 °C thêm 60 phút nữa. Hỗn hợp phản ứng
được bơm thẳng lên hệ thống HPLC với cột
Đối với các hợp chất glycoside,
trước hết, thủy phân chất phân tích trong dung dịch HCl 2M ở 90 °C trong 2 giờ,
sau đó trung hòa hỗn hợp phản ứng với
Kết quả và bàn luận
Trong nghiên cứu của Tanaka và
cộng sự, mười một cặp đồng phân đối quang của các aldose đã được sử dụng để tạo
dẫn xuất và so sánh về thời gian lưu trên hệ thống HPLC-UV. Kết quả cho thấy
thời gian lưu của các dẫn xuất với mỗi đồng phân đối quang chênh lệch từ
Bảng 1. So sánh thời gian lưu các dẫn xuất arylthiocarbamate
|
Aldose |
Cấu hình |
tR (min) |
Δt |
|
Hexose |
|||
|
Glucose |
D |
17,48 |
1,33 |
|
L |
16,15 |
||
|
Mannose |
D |
11,2 |
6,21 |
|
L |
17,41 |
||
|
Galactose |
D |
15,45 |
0,49 |
|
L |
15,95 |
||
|
Rhamnose |
D |
15,85 |
13,61 |
|
L |
29,47 |
||
|
Fucose |
D |
23,76 |
2,41 |
|
L |
26,17 |
||
|
Glucuronic acid |
D |
18,17 |
0,53 |
|
L |
17,64 |
||
|
N-Ac-glucosamine |
D |
11,04 |
3,89 |
|
L |
14,93 |
||
|
Pentose |
|||
|
Arabinose |
D |
20,83 |
1,31 |
|
|
L |
19,52 |
|
|
Xylose |
D |
20,36 |
1,43 |
|
L |
18,93 |
||
|
Apiose |
D |
28,57 |
12,88 |
|
L |
15,69 |
||
|
Ribose |
D |
20,96 |
6,15 |
|
L |
14,81 |
||
Trong khi đó, nghiên cứu của Wang
và cộng sự, sử dụng hệ thống phân tích UPLC-MS, đã phân biệt được dẫn xuất của
16 aldose thuộc ba phân nhóm là hexose, deoxy-hexose và pentose [4]. Phân nhóm
hexose có mảnh ion phân tử đặc trưng m/z
455 gồm dẫn xuất của L-allose; L-glucose; D-galactose; L-galactose; D-glucose
và D-allose (Hình 2). Dẫn xuất của D và L-allose có mức chênh lệch thời gian
lưu lên tới gần 8 phút, trong khi các dẫn xuất của D/L- glucose và
D/L-galactose cũng có thời gian lưu chênh nhau từ 1-2 phút. Tương tự như vậy,
các cặp đồng phân đối quang của các aldose thuộc phân nhóm deoxy-hexose m/z 439 gồm 2-deoxy-D-glucose;
2-deoxy-D-galactose; D-fucose; L-fucose; 6-deoxy-D-glucose và L-rhamnose; và
phân nhóm pentose m/z 425 gồm
L-xylose; D-xylose; L-arabinose, D-arabinose cũng lần lượt được phân biệt (Hình
2).
Hình
2. Sắc ký đồ 16 dẫn xuất của các aldose. Phân nhóm hexose m/z 455 gồm 1, L-allose;
2, L-glucose; 3, D-galactose; 4, L-galactose; 5, D-glucose
và 6, D-allose; phân nhóm deoxy-hexose m/z 439 gồm 7,
2-deoxy-D-glucose; 8, 2-deoxy-D-galactose; 9, D-fucose; 10, L-fucose; 11,
6-deoxy-D-glucose và 12, L-rhamnose; phân nhóm pentose m/z 425 gồm 13, L-xylose;
14, D-xylose; 15, L-arabinose và 16, D-arabinose) [4]
Trong các công bố trên, các nhóm
tác giả cũng áp dụng phương pháp tạo dẫn xuất để xác định cấu hình của gốc
đường trong các phân tử hợp chất tự nhiên như 1-(3,4-dihydroxyphenyl)-2-propene-3-O-(4-O-α-arabinopyranosyl)-β-glucopyranoside
[3], cauloside G hoặc ciwujianoside A1 [4]. Để làm được điều này, các gốc đường
cần được thủy phân về dạng monosaccharide, sau đó, trung hòa acid dư và loại bỏ
hoàn toàn nước trong hỗn hợp trước khi tạo dẫn xuất. Phân tích sản phẩm phản
ứng ở cùng điều kiện sắc ký với dẫn xuất của aldose nguyên chất và so sánh về
thời gian lưu cho phép xác định được chính xác cấu hình của gốc đường.
Lời kết
Tài liệu tham khảo
1. Masateru Ono, Kanna Oishi, Hiroaki Abe, Chikako Masuoka,
Masafumi Okawa, Tsuyoshi Ikeda and Toshihiro Nohara, 2006, New Iridoid
Glucosides from the Aerial Parts of Verbena
brasiliensis, Chemical and
Pharmaceutical Bulletin, 54(10), pp.
1421-1424.
3. Takashi Tanaka, Tatsuya Nakashima, Toshihisa Ueda, Kenji
Tomii and Isao Kouno, 2007, Facile Discrimination of Aldose Enantiomers by
Reversed-Phase HPLC, Chemical and
Pharmaceutical Bulletin, 55(6), pp.
899-901.
4. Yan-Hong Wang, Bharathi
Avula, Xiang Fu, Mei Wang and Ikhlas A. Khan, 2012, Simultaneous Determination
of the Absolute Configuration of Twelve Monosaccharide Enantiomers from Natural
Products in a Single Injection by a UPLC-UV/MS Method, Planta Med, 78(08), pp.
834-837.


Nhận xét
Đăng nhận xét