Quản trị rủi ro trong đầu tư chứng khoán (phần 1)

*******************

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của người biên soạn và chỉ nhằm mục đích chia sẻ thông tin, hoàn toàn không có mục đích thương mại và không phải khuyến nghị đầu tư. Anh chị em vui lòng xem đây là một tư liệu tham khảo và tự chịu trách nhiệm với các hoạt động đầu tư của bản thân.

*******************

Tại sao cần phải quản trị rủi ro?

Nhiều anh chị em có thể cho rằng, khi đầu tư dài hạn thì chúng ta có thể bỏ qua mọi rủi ro trên thị trường, bởi sức hấp dẫn từ những câu chuyện nhân 5, nhân 10 giá trị tài khoản sau 10 năm, hoặc bởi một công thức tính lãi kép nào đó mà sau 10 năm, chúng ta sẽ tích được một mớ tiền từ một khoản tích lũy nho nhỏ. Nếu dễ dàng như vậy thì thị trường chứng khoán đã không khiến nhiều người tán gia bại sản. Phần lớn những nhà đầu tư chỉ nhìn vào chiều tăng của thị trường mà quên mất chiều ngược lại và chắc không ai lập bảng tính lãi kép mà lại đặt giả thiết rằng trong 10 năm đầu tư thì năm thứ nhất lỗ 20%, năm thứ hai lỗ 10%, năm thứ ba, thứ tư hòa vốn, năm thứ năm lãi 2% ... để hiểu rằng một khoản lợi nhuận 100% sau 10 năm phải đến từ khoản lợi nhuận 7% mỗi năm chứ không phải lỗ và hòa vốn 5 năm đầu tiên rồi thần kì tăng tốc trong 5 năm còn lại.

Không giống như gửi tiết kiệm, khi mà những khoản tiền đều (chắc chắn) có một khoản lợi suất cố định, đầu tư chứng khoán là một hoạt động có rủi ro, mà ở đó, người tham gia có thể hưởng lợi nhuận hoặc bị thua lỗ. Bởi tính biến động rất cao, thị trường chứng khoán tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khiến nhà đầu tư có thể mất lãi hoặc mất vốn. Tuy nhiên, giống như những cơn lũ trong mùa nước nổi, vừa có thể cuốn trôi nhà cửa, thuyền bè, vật nuôi, vừa mang tới tôm cá, phù sa cho ruộng đồng, rủi ro của thị trường chứng khoán vừa là nguy cơ mất tiền của những nhà đầu tư ngây thơ, vừa là cơ hội tích lũy tài sản giá rẻ cho những nhà đầu tư có kiến thức. Một nhà đầu tư biết quản trị rủi ro thị trường sẽ tìm thấy những cơ hội tốt để gia tăng tài sản ở giá thấp, hiện thực hóa lợi nhuận ở giá cao, tránh mua vào ở những vùng thị trường tăng trưởng quá nóng, hay chí ít là trót đu đỉnh thì cũng biết cắt lỗ ở vai thay vì gồng nó xuống tận đáy. Bởi vậy, việc quản trị rủi ro là tối quan trọng đối với mỗi nhà đầu tư và không quá khi nói muốn thành công trên thị trường đầu tư, việc duy nhất cần làm là quản trị rủi ro.

Những rủi ro khi đầu tư chứng khoán

Rủi ro khi đầu tư chứng khoán gồm hai loại: rủi ro cụ thể rủi ro thị trường.

Rủi ro cụ thể đến từ nội tại của doanh nghiệp phát hành cổ phiếu. Muốn quản trị rủi ro cụ thể, nhà đầu tư cần tìm hiểu thật kĩ về hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Với sự phát triển của các công cụ phân tích trên các ứng dụng môi giới, các nhà đầu tư hiện đã có thể theo dõi tăng trưởng hay sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, ROE, ROA hay ROIC của doanh nghiệp theo từng quý, hoặc cập nhật được P/E, P/B của cổ phiếu trong từng thời điểm. Và nếu theo dõi từng ấy thông tin vẫn chưa đủ thì tin vui là rủi ro cụ thể còn có thể được phân tán bằng cách đa dạng hóa danh mục cổ phiếu. Khi có một danh mục đầu tư đa dạng thì nhà đầu tư sẽ ít bị rủi ro trắng tay nếu có một doanh nghiệp nào đó đột ngột bị hủy niêm yết hay phá sản.

Trong khi đó, rủi ro thị trường lại không đến từ các doanh nghiệp mà đến từ nội tại của nền kinh tế, thứ mà trong loạt bài này sẽ được gọi là các biến số của kinh tế vĩ mô. Khi các yếu tố như lãi suất, tỷ giá, lạm phát, GDP... thay đổi, toàn bộ thị trường chứng khoán sẽ có phản ứng. Và bởi toàn bộ thị trường đều chịu tác động nên các rủi ro này là không thể pha loãng dù danh mục có đa dạng đến đâu. Do đó, nếu dự định mua chứng chỉ ETF vì cho rằng có thể tránh được rủi ro thị trường nhờ danh mục đa dạng của quỹ thì có thể anh chị nên suy nghĩ lại. Nhiều anh chị em có lẽ đã chứng kiến cú sụt giảm 30% của VNINDEX cuối năm 2022 do SBV tăng lãi suất và sau đó là một sự phục hồi hơn 20% nhờ ba lần SBV giảm lãi suất giữa năm 2023, tiếp theo đó là một lần giảm 20% vào 9/2023 do SBV hút tín phiếu để ổn định tỷ giá, hay mới đây là cú giảm 8% vào 4/2024 cũng bởi vấn đề tỷ giá. Những biến động này có thể lấy đi một phần hay toàn bộ lợi nhuận mà anh chị em tích lũy được sau 3-6 tháng, thậm chí có thể tạo ra trạng thái lỗ khoảng 10-20% cho những anh chị em mua vào ở đỉnh. Ngược lại, thị trường giảm cũng là lúc để những nhà đầu tư mới hay những người cầm tiền có thể tích lũy nhiều tài sản hơn với giá hấp dẫn hơn. Bởi rủi ro thị trường có tính chất phổ biến và ảnh hưởng tới hầu hết các tài sản đầu tư nên loạt bài viết này sẽ chỉ đề cập tới việc quản trị loại rủi ro này.

Các biến số của kinh tế vĩ mô

Có hai trạng thái đối lập nhưng đều tiêu cực, thường thấy ở các nhà đầu tư, một bên là cố đoán thị trường bằng mọi giá và khăng khăng hành động theo dự đoán đó, bên còn lại ru ngủ nhau bằng câu nói "không ai đoán được thị trường" rồi làm bừa. Và để thoát khỏi trạng thái bế tắc, chúng ta cần một con đường trung đạo. Đồng ý rằng không ai đoán chắc được thị trường vào ngày mai, ngày mốt sẽ ra sao, hay nói cách khác, không ai biết chính xác khi nào thị trường sẽ tăng, khi nào thị trường sẽ giảm, nhưng những biến cố trong một tương lai gần (khoảng 3-6 tuần) thì hoàn toàn có thể. Khi một biến cố của kinh tế vĩ mô xảy ra, chẳng hạn SBV thay đổi lãi suất điều hành, tỷ giá vượt trần của SBV, lãi suất thị trường liên ngân hàng kì hạn qua đêm (lãi suất ON) tăng vợt, SBV hút tín phiếu hoặc bơm OMO…thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ có phản ứng. Thời điểm bắt đầu thay đổi có thể sớm hoặc trễ và khoảng thời gian phản ứng có thể dài ngắn khác nhau, nhưng chắc chắn những biến động của thị trường sẽ xảy ra.

Để giảm thiểu, phòng tránh và tận dụng cơ hội từ rủi ro thị trường, cách duy nhất có thể làm là quan sát các biến số của kinh tế vĩ mô và dự phóng các kịch bản của thị trường. Các biến số của kinh tế vĩ mô có thể chia làm ba loại.

Biến số cấp 1

Đây là những biến số của nền kinh tế Việt Nam, có thể tác động trực tiếp và nhanh chóng đến thị trường tài chính. Có thể kể đến một vài biến số cấp 1 đặc trưng như lãi suất ON, SBV hút tín phiếu, sự thay đổi của tỷ giá USD/VND, lợi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 5 năm, 10 năm. Tác động của các yếu tố này là rất rõ rệt và chúng thường song hành với nhau. Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu năm 2024, tỷ giá USD/VND tăng cao dẫn tới việc SBV bán tín phiếu bắt đầu từ ngày 11 tháng 03. Hoạt động bán tín phiếu của SBV đã khiến thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng sụt giảm, lãi suất ON dần được đẩy lên và neo giữ ở mức cao nhằm kiềm chế sự gia tăng của tỷ giá. Khi diễn ra một loạt biến số như vậy, thị trường chứng khoán đã chứng kiến mức giảm điểm khoảng 8% đối với chỉ số VNIndex chỉ trong khoảng 3 tuần lễ và cho tới giữa tháng 05, thanh khoản thị trường cũng đã giảm mạnh so với giai đoạn trước đó.

Biến số cấp 2

Đây là các biến số của nền kinh tế Việt Nam có tác động chậm và không hoàn toàn trực tiếp lên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, về dài hạn, sự thay đổi các chỉ số này có thể gây ra những biến chuyển lớn về giá của các tài sản đầu tư, do đó, nhà đầu tư cũng phải quan sát chặt chẽ các biến số này. Ví dụ điển hình của biến số cấp 2 có thể kể tới GDP, chỉ số CPI của Việt Nam, tốc độ giải ngân đầu tư công, tốc độ tăng trưởng tín dụng…

Biến số cấp 3

Đây là các biến số từ bên ngoài, tác động gián tiếp nhưng có thể rất dai dẳng và rất lớn đến đến thị trường Việt Nam. Có thể kể đến các yếu tố như FED Fund Rate, DXY, giá dầu Brent hoặc lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kì hạn 5 năm, 10 năm…

Phân loại biến số theo dạng chỉ báo

Bên cạnh ý nghĩa là các biến số của thị trường chứng khoán, các yếu tố kể trên còn là chỉ báo cho sự vận động của cả nền kinh tế. Do đó, ngoài việc phân cấp, các biến số này còn được phân loại theo dạng chỉ báo của thị trường, gồm có chỉ báo dẫn dắt, chỉ báo đồng thời, chỉ báo xác nhận. Các chỉ báo dẫn dắt cho phép nhà đầu tư dự đoán hướng đi tiếp theo của thị trường và nền kinh tế. Trong khi đó, chỉ báo đồng thời phản ánh tính chất hiện tại của kinh tế vĩ mô và thị trường đầu tư, còn các chỉ báo xác nhận sẽ phản ánh kết quả của quá trình vận động trước đó được thể hiện thông qua các chỉ báo dẫn dắt và đồng thời. Có thể minh hoạ các biến số theo dạng chỉ báo qua hình ảnh dưới đây

Có thể thấy lượng biến số kể trên là tương đối nhiều và thời gian để cập nhật các biến số này cũng khác nhau. Những chỉ số như VN Index, tỷ giá, lãi suất ON… sẽ biến đổi hàng ngày, trong khi một số chỉ báo như IIP, PMI, GDP, CPI lại xuất hiện hàng tháng. Việc cập nhật những chỉ số nào cũng phụ thuộc nhiều vào chiến lược cũng như danh mục tài sản của người đầu tư. Chẳng hạn một nhà đầu tư vào các cổ phiếu ngành thép, xuất khẩu, vận tải có thể quan tâm nhiều hơn tới các chỉ số như giá HRC, Baltic Dry Index, giá dầu Brent nhưng không nhất thiết phải quan tâm tới giá thịt lợn hay tăng trưởng tín dụng… Tuy nhiên, từ quan điểm cá nhân, mọi nhà đầu tư đều cần quan tâm tới những chỉ số tác động sâu sắc đến nền kinh tế như lãi suất điều hành, lãi suất ON, tỷ giá, GDP và CPI.

Sau khi lựa chọn được các biến số vĩ mô cần thiết, việc cần làm là đánh giá tình hình, dự phóng kịch bản xảy ra với từng biến số đó và dự đoán xác suất cũng như tác động của kịch bản đó tới thị trường chứng khoán. Một trong những cách để đánh giá và kiểm soát những tác động đó đến danh mục đầu tư là sử dụng mô hình TARA để quản trị rủi ro. Mô hình TARA là gì và làm sao để sử dụng nó. Hãy đón chờ phần 2 của bài viết này để có câu trả lời. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến